Search

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “CHIẾN LƯỢC CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG ĐẾN NĂM 2020”

Thứ Tư, 14/06/2017 15:15

Ngày 17-5-2010, Bộ Chính trị khoá X đã ban hành Kết luận số 72-KL/TW ve72 “Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020” (gọi tắt là Chiến lược kiểm tra, giám sát). Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện đã đạt được kết quả quan trọng. Cụ thể:

Đến hết tháng 12-2010, các cấp uỷ, tổ chức đảng đã hoàn thành việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt Chiến lược kiểm tra, giám sát trong đảng bộ. Qua đó, hầu hết các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp uỷ đã nhận thức đầy đủ hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của Chiến lược kiểm tra, giám sát và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. UBKT Trung ương và UBKT các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương đã thành lập ban (tổ) tuyên truyền theo Thông báo kết luận số 226-TB/KL của Ban Bí thư (khoá X), cung cấp thông tin, nhất là các kết luận sau các kỳ họp của UBKT và đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, các bản tin nội bộ, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, tạo chuyển biến rõ rệt trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về hoạt động kiểm tra, giám sát.

Hầu hết các quy định nêu trong Chiến lược kiểm tra, giám sát đã được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Từ khi ban hành đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư xây dựng và ban hành 33 văn bản; UBKT Trung ương đã xây dựng và ban hành 47 văn bản liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng; tạo cơ sở pháp lý, điều kiện cho thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng.

Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp tương thích với Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phù hợp dần với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, trong đó có Hiến pháp năm 2013,… làm căn cứ quan trọng cho thực hiện công tác kiểm tra, giám sát.

Nội dung kiểm tra, giám sát đã bao quát, toàn diện hơn theo phương châm “kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”, “giám sát phải mở rộng”. Đối tượng kiểm tra, giám sát đã chú trọng tập trung vào ban cán sự đảng, đảng đoàn và các tổ chức đảng ở các doanh nghiệp nhà nước và một số đối tượng mà trước kia ít được kiểm tra, giám sát như các tổ chức đảng các đơn vị hậu cần trong quân đội, công an, Thanh tra Chính phủ… Hướng dẫn số 46 ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã bổ sung nội dung kiểm tra việc “thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước” và bổ sung đối tượng kiểm tra, giám sát là “thường trực cấp uỷ từ cấp trên cơ sở trở lên”. Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã bổ sung nội dung “kiểm tra, giám sát về phòng, chống tham nhũng, kê khai tài sản cho UBKT các cấp”; bổ sung “ban thường vụ đảng uỷ cơ sở và chi uỷ là đối tượng kiểm tra, giám sát” của Đảng. UBKT cấp trên có quyền kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

Các cấp uỷ đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, phân công đồng chí trong cấp uỷ, thường vụ cấp uỷ làm trưởng đoàn hoặc trực tiếp chỉ đạo đoàn kiểm tra, giám sát của cấp mình; phân công phụ trách lĩnh vực, địa bàn, trong đó có nhiệm vụ chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát. Hằng năm và cuối nhiệm kỳ, Ban Bí thư, cấp uỷ đã chủ trì tổ chức tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm để chỉ đạo phù hợp, sát sao hơn. UBKT cấp trên đã chủ động, tích cực chỉ đạo, hướng dẫn UBKT cấp dưới về mọi mặt, nhất là về nghiệp vụ. Nhiều vụ việc có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, phức tạp, đã trực tiếp chỉ đạo, phối hợp, “tiếp sức” cho UBKT cấp dưới thực hiện có hiệu quả.

Việc phối hợp đã dần đi vào nền nếp theo quy chế phối hợp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả các cuộc kiểm tra, giám sát, nhất là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, giải quyết tố cáo, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.

Số lượng thành viên UBKT Trung ương được tăng từ 15 đồng chí trong nhiệm kỳ Đại hội X lên 21 đồng chí trong nhiệm kỳ XI và XII. UBKT các địa phương, đơn vị được ban chấp hành đảng bộ cấp mình bầu và được Ban Bí thư, ban thường vụ cấp uỷ cấp trên chuẩn y đúng quy định. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đã thực hiện tăng một số thẩm quyền thi hành và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, cấp uỷ viên cho UBKT từ cấp huyện và tương đương trở lên theo Chiến lược kiểm tra, giám sát. Cụ thể: “Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên được quyền quyết định đình chỉ sinh hoạt của cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý (ở Trung ương là Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý) nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp khi bị tạm giam, truy tố; quyết định đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp khi bị khởi tố”; “Uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ, thành uỷ và đảng uỷ trực thuộc Trung ương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên huyện, quận và tương đương (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ), đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp”. Tăng thẩm quyền cho UBKT Trung ương được: “Thu hồi, huỷ bỏ quyết định của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới trái với thẩm quyền theo quy định của Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng”; kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ, đảng viên; tổ chức thi nâng ngạch cho cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

- Cấp Trung ương: Cơ quan UBKT Trung ương được Bộ Chính trị cho thành lập thêm Vụ Đơn thư tiếp đảng viên và công dân; Vụ Đào tạo và bồi dưỡng. Lãnh đạo Cơ quan đã sắp xếp lại các phòng thuộc Văn phòng và giải thể một số phòng thuộc các Vụ. Cán bộ thuộc các vụ, đơn vị được bổ sung tăng cường cơ bản đủ biên chế, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

- Cấp tỉnh và tương đương: Tổ chức bộ máy cơ quan UBKT cấp tỉnh, thành và tương đương cơ bản được kiện toàn theo Quy định số 222-QĐ/TW, ngày 8-5-2009 và nay là Điều 6, Quy định số 219-QĐ/TW, ngày 27-12-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ và Hướng dẫn của UBKT Trung ương về thực hiện Điều 6, Quy định nêu trên. Một số tỉnh đã thí điểm hợp nhất cơ quan UBKT và cơ quan thanh tra cùng cấp ở cấp huyện (Quảng Ninh…). Đây là một mô hình mới, cần nghiên cứu, tổng kết.

- Cấp huyện và tương đương: Cơ quan UBKT cấp huyện và tương đương nhìn chung được kiện toàn theo Điều 5, Quy định số 220-QĐ/TW, ngày 27-12-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ.

- Việc đánh giá cán bộ đã được các cấp uỷ, UBKT quan tâm. Việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo kiểm tra được chú trọng. Trong 6 năm, từ cấp huyện trở lên đã thực hiện luân chuyển đối với 962 chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và 834 uỷ viên UBKT. Có nơi đã quan tâm tạo nguồn cán bộ kiểm tra từ sinh viên tốt nghiệp các trường đại học công lập (Hà Nội). Hằng năm, đã rà soát, bổ sung quy hoạch và đưa ra khỏi quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ cấp vụ, phòng theo đúng quy trình, quy định; có sự đổi mới như trước khi bổ nhiệm, cán bộ phải trình bày chương trình hành động. Tích cực, chủ động phối hợp với các Học viên Chính trị mở 5 lớp Cử nhân chuyên ngành Kiểm tra Đảng với 291 học viên; giáo viên thỉnh giảng cho 33 đồng chí; nghiệp vụ tin học, thống kê cho 153 đồng chí, tổ chức 6.596 lớp cho 582.940 đồng chí về tập huấn nghiệp vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Chế độ, chính sách đối với cán bộ kiểm tra chuyên trách đã được quan tâm như các ban đảng, ngoài ra còn phụ cấp thâm niên; thi nâng ngạch kiểm tra cho 855 công chức, xếp ngạch kiểm tra viên cho hơn 400 công chức.

Các cấp uỷ, UBKT các cấp đã quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật, trụ sở, phương tiện làm việc cho UBKT và cơ quan UBKT. Cơ quan UBKT Trung ương và một số cơ quan UBKT cấp tỉnh, thành đã được đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo nâng cấp khang trang hơn; trang thiết bị có sự đổi mới và cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Việc ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin vào lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và chỉ đạo, hướng dẫn của UBKT cấp trên đã có đổi mới và hoàn thiện từng bước, kết nối, bảo mật và bảo đảm được giao ban trực tuyến.

- Các cấp uỷ, UBKT đã quam tâm chỉ đạo công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đồng bộ với nghiên cứu công tác xây dựng Đảng. Trong 6 năm đảng uỷ trực thuộc Trung ương và UBKT Trung ương đã nghiên cứu 90 đề tài, đề án khoa học, góp phần trực tiếp phục vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng. Việc hợp tác quốc tế về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã được tăng cường và mở rộng: UBKT Trung ương đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức trên 30 đoàn với trên 500 lượt cán bộ trong Ngành đi nghiên cứu, học tập kinh nghiệm về công tác kiểm tra, giám sát, phòng, chống tham nhũng và công tác xây dựng Đảng ở một số quốc gia.

Tóm lại, các tổ chức đảng đã nghiêm túc thực hiện các nội dung cơ bản của Chiến lược kiểm tra, giám sát (3 mục tiêu, 4 quan điểm, 6 nhóm nhiệm vụ và giải pháp), góp phần quan trọng vào nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, duy trì kỷ luật, kỷ cương, ngăn ngừa khuyết điểm, vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng, khẳng định Chiến lược đã cụ thể hoá một số nội dung của Nghị quyết Đại hội X của Đảng và Nghị quyết Trung ương 5 khoá X về “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”, đáp ứng yêu cầu công tác xây dựng Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, góp phần thực hiện thắng lợi công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng.

Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện Chiến lược kiểm tra, giám sát vẫn còn hạn chế, yếu kém: Kết quả thực hiện mục tiêu quan trọng là góp phần khắc phục tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ; ngăn chặn và đẩy lùi suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Có những quan điểm trong Chiến lược kiểm tra, giám sát chưa được cụ thể hoá. Một số nhiệm vụ và giải pháp nêu trong Chiến lược kiểm tra, giám sát chưa thực hiện được hoặc có thực hiện nhưng hiệu quả thấp. Cơ chế, chế tài kiểm soát quyền lực người đứng đầu, nhất là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi còn rất hạn chế. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Để khắc phục các hạn chế, yếu kém trên trong thực hiện Chiến lược kiểm tra, giám sát, cần tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, phạm vi lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chiến lược kiểm tra, giám sát và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng của các cấp uỷ, các tổ chức đảng, UBKT và của chi bộ. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và khoá XII về tăng cường xây dựng Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Hai là, tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.

- Trước mắt, cần sửa đổi, bổ sung thống nhất Khoản 3.2, Điểm 3, Điều 5 trong Quy định 220-QĐ/TW, ngày 27-12-2013 của Ban Bí thư khoá XI về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy chuyên trách tham mưu, giúp việc huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ “có từ 5 đến 7 người…” cho phù hợp với Tiết 1.2.8, Mục 1, Điều 31, Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26-7-2016 của Ban Chấp hành Trung ương thi hành Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng: UBKT của cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ: “Số lượng từ 7 đến 9 uỷ viên…” để cấp huyện và tương đương có cơ sở kiện toàn UBKT, cơ quan UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra.

Xây dựng Quy định xử lý những tổ chức đảng ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung Chiến lược và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; đảng viên suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp có dư luận xấu về người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. Xây dựng quy định và xử lý trách nhiệm của cán bộ kiểm tra theo dõi lĩnh vực, địa bàn.

Sửa đổi, bổ sung Quy chế kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ của Bộ Chính trị khoá X. Phải coi kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và cán bộ là yếu tố quan trọng để kiểm soát quyền lực và xây dựng được đội ngũ cán bộ “vừa hồng vừa chuyên”, vì mọi thành bại đều do cán bộ mà ra.

- Rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước phục vụ công tác kiểm tra, giám sát, trước hết là Luật Cán bộ, Công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước. Trước mắt, cần xây dựng, ban hành Quy định về thực hiện việc thu hồi, xử lý, quản lý, sử dụng tiền vi phạm qua kiểm tra; Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xoá bỏ cơ chế “xin – cho”, “duyệt - cấp”, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế.

Ba là, đẩy mạnh và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng.

Tập trung chỉ đạo kiểm tra, giám sát cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản lý, cán bộ tham mưu chiến lược, trước hết là người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở các cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương và địa phương. Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, đảng đoàn, tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế gây thất thoát, thua lỗ lớn, có dấu hiệu tham nhũng và trong việc lãnh đạo, chỉ đạo.

Bốn là, UBKT các cấp chủ động phối hợp với các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ thực hiện tốt chức năng tham mưu, giúp cấp uỷ thực hiện Chiến lược. Tập trung kiểm tra đảng viên là cán bộ chủ chốt ở các cấp khi có dấu hiệu vi phạm. Chú trọng hơn việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng theo hướng gắn lý luận với thực tiễn.

Năm là, tiếp tục kiện toàn UBKT, tổ chức bộ máy cơ quan UBKT và cán bộ kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng của UBKT các cấp, trong đó có nội dung kiểm tra, giám sát việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí và kê khai tài sản, thu nhập.

Nghiên cứu mô hình về cơ quan UBKT tinh gọn nhưng bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa UBKT và thanh tra, khắc phục trùng chéo nhiệm vụ và kém hiệu quả. Thực hiện thí điểm sáp nhập cơ quan thanh tra nhà nước và cơ quan UBKT cùng cấp ở những địa phương có đủ điều kiện. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp và nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra bảo đảm tính chuyên nghiệp, nghề đặc thù. Nâng cao hiệu quả, chất lượng hợp tác quốc tế trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng.

Nghiên cứu tăng thẩm quyền, trách nhiệm cho UBKT các cấp, trong đó có thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tham nhũng, kiểm soát quyền lực; được chuyển và yêu cầu các cơ quan pháp luật điều tra, truy tố khi tổ chức, cá nhân có vi phạm nghiêm trọng trong công tác kiểm tra; nghiên cứu xây dựng cơ cấu, tổ chức UBKT, cán bộ kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới để tiến tới giao UBKT Trung ương quản lý toàn diện đội ngũ cán bộ kiểm tra chuyên trách. Có cơ chế, chính sách, biện pháp phù hợp thu hút cán bộ về làm công tác kiểm tra, giám sát ở UBKT từ cấp huyện và tương đương trở lên. Đồng thời, quan tâm tăng cường nguồn lực, bảo đảm cơ sở vật chất,  kỹ thuật, điều kiện làm việc cho UBKT, cơ quan UBKT hoàn thành nhiệm vụ được giao./.

Trích nguồn từ Tạp chí Kiểm tra Trung ương số 4/2017

     của tác giả Hà Hữu Đức.

Lượt xem: 2673

Bookmark and Share

Bình luận

BANDOHANHCHINHBP.png

LỊCH LÀM VIỆC

Tháng Bảy 2019
T2T3NămSáuBảyCN
1234567
891011121314
15161718192021
22232425262728
2930311234
567891011

hoi dap cong tac dang.png

CAN CAN.gif

 goc thu gian.jpg